Tin tức

Các cam kết về tự do hoá thương mại dịch vụ trong Hiệp định CEPA Việt Nam - UAE

Thứ Ba, 28/10/2025

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại Dubai, các Tiểu vương quốc Ả - rập thống nhất (UAE), trước sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Phó Tổng thống kiêm Thủ tướng UAE Mohammed bin Rashid Al Maktoum, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam Nguyễn Hồng Diên đã cùng Quốc vụ khanh Bộ Kinh tế UAE Thani bin Ahmed Al Zeyoudi ký Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - UAE (sau đây gọi tắt là Hiệp định CEPA). Vào ngày 15 tháng 5 năm 2025, Chính phủ đã Nghị quyết số 130/NQ-CP về việc phê duyệt Hiệp định CEPA – Việt Nam.

Hiệp định CEPA được khởi động đàm phán vào năm 2023 trong bối cảnh quan hệ song phương giữa Việt Nam và UAE ngày càng phát triển tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế - thương mại. UAE hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất và là đối tác thương mại lớn thứ hai (sau Kuwait) của Việt Nam tại khu vực Tây Á.

Đối với chương thương mại dịch vụ, CEPA Việt Nam – UAE bao gồm các cam kết cơ bản giống như các FTA khác mà Việt Nam tham gia bao gồm các nghĩa vụ Đối xử quốc gia (NT), Đối xử Tối huệ quốc (MFN), Mở cửa thị trường (MA) và Quy định trong nước (DR) v.v.

Trong đó, cần phải hiểu các cam kết vè tự do hoá thương mại dịch vụ về bản chất bao gồm các nghĩa vụ gồm: nghĩa vụ Đối xử quốc gia, nghĩa vụ Mở cửa thị trường và nghĩa vụ Đối xử Tối huệ quốc. Trong khi đó, ở góc độ tổng quan, CEPA Việt Nam – UAE là một hiệp định thương mại tự do (FTA) có cam kết ở mức độ trung bình, tức là mức độ cao hơn so với WTO và một số FTA truyền thống khác mà Việt Nam tham gia, tuy nhiên, thấp hơn so với các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA).

1. Về nghĩa vụ đối xử quốc gia

Điều 8.6 Hiệp định CEPA quy định hai bên cam kết trong các ngành được mô tả tại Biểu cam kết cụ thể và phù hợp với bất kỳ điều kiện và trình độ chuyên môn nào được nêu trong Biểu đó, mỗi Bên sẽ dành cho dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Bên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của mình.

Có thể thấy cách tiếp cận khi quy định “dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự” giống với quy định trong Hiệp định GATS của WTO, hẹp hơn rất nhiều so với cách tiếp cận của Hiệp định CPTPP khi Hiệp định CPTPP sử dụng cách tiếp cận là “trong hoàn cảnh tương tự”.

2. Về nghĩa vụ đối xử tối huệ quốc

Điều 8.4 Hiệp định CEPA quy định ngoại trừ những quy định trong Danh mục miễn trừ tối huệ quốc tại Phụ lục 8B (Danh mục miễn trừ tối huệ quốc), mỗi Bên phải, ngay lập tức và vô điều kiện, dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Bên đó dành cho các “dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ Bên nào không phải là bên của Hiệp định.

Tuy nhiên, nghĩa vụ này không áp dụng đối với những trường hợp sau:

(a) Sự đối xử được trao theo các thỏa thuận đang có hoặc các thỏa thuận trong tương lai do một trong các Bên ký kết tham gia và được thông báo theo Điều V hoặc V bis của Hiệp định GATS cũng như sự đối xử được trao theo Điều VII của Hiệp định GATS hoặc các biện pháp thận trọng theo Phụ lục Hiệp định GATS về Dịch vụ tài chính.

(b) Sự đối xử mà UAE dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của các quốc gia thành viên Hội đồng Hợp tác các Quốc gia Thành viên vùng Vịnh (GCC) theo Hiệp định kinh tế GCC và sự đối xử theo Khu vực Thương mại Tự do Ả Rập mở rộng (GAFTA).

(c) Sự đối xử mà Việt Nam dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của ASEAN theo bất kỳ Hiệp định ASEAN nào cho phép bất kỳ quốc gia thành viên ASEAN nào tham gia, có hiệu lực hoặc được ký kết sau thời điểm có hiệu lực của Hiệp định này.

Tương tự như nghĩa vụ đối xử quốc gia, có thể thấy cách tiếp cận khi quy định “dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự” giống với quy định trong Hiệp định GATS của WTO, hẹp hơn rất nhiều so với cách tiếp cận của Hiệp định CPTPP khi Hiệp định CPTPP sử dụng cách tiếp cận là “trong hoàn cảnh tương tự”.

3. Về nghĩa vụ tiếp cận thị trường

Điều 8.5 quy định các Bên không được duy trì hoặc áp dụng trong các lĩnh vực đã cam kết tiếp cận thị trường các biện pháp:

(a) hạn chế về số lượng các nhà cung cấp dịch vụ dưới hình thức hạn ngạch, độc quyền, nhà cung cấp dịch vụ độc quyền hoặc yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế;

(b) hạn chế về tổng giá trị của các giao dịch dịch vụ hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế;

(c) hạn chế về tổng số hoạt động dịch vụ hoặc về tổng đầu ra dịch vụ được thể hiện theo đơn vị số theo hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu kiểm tra nhu cầu kinh tế;

(d) các hạn chế về tổng số thể nhân có thể được tuyển dụng trong một ngành cụ thể hoặc một nhà cung cấp dịch vụ có thể tuyển dụng mà các thể nhân đó cần thiết cho và liên quan trực tiếp đến việc cung cấp một dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về kiểm tra nhu cầu kinh tế;

(e) các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các loại hình cụ thể của pháp nhân hoặc liên doanh mà thông qua đó dịch vụ được cung cấp; và

(f) các hạn chế về sự tham gia vốn nước ngoài dưới hình thức các hạn chế về tỷ lệ tối đa của cổ phần nước ngoài hoặc tổng giá trị đầu tư nước ngoài, tính riêng hoặc cộng gộp.

Cam kết tiếp cận thị trường trong Hiệp định CEPA ngang với WTO, Hiệp định EVFTA và Hiệp định UKVFTA.

5. Tác động đến Việt Nam

Hiệp định CEPA giữa Việt Nam và UAE hứa hẹn mang lại nhiều tác động tích cực đối với Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Việc hai bên cam kết mở cửa thị trường, đảm bảo đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc giúp tạo môi trường cạnh tranh công bằng và minh bạch hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường UAE. Điều này không chỉ thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam, mà còn mở ra cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực có tiềm năng như logistics, tài chính, du lịch và công nghệ thông tin. Bên cạnh đó, việc tham gia CEPA cũng giúp Việt Nam nâng cao năng lực thể chế, tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế và củng cố vị thế là đối tác thương mại chiến lược của UAE tại khu vực châu Á.

           Nguồn: Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương


Bài viết liên quan