Việt Nam, tên chính thức là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là quốc gia nằm ở cực đông của Bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á. Với dân số ước tính 95,5 triệu người vào năm 2018, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới. Việt Nam có chung biên giới trên đất liền với Trung Quốc ở phía bắc, với Lào và Cam-pu-chia ở phía tây. Việt Nam có đường biên giới trên biển với Thái Lan tại Vịnh Thái Lan; với Phi-líp-pin, In-đô-nê-xia và Ma-lai-xia trên Biển Đông. Thủ đô của Việt Nam là Hà Nội, trong khi thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm thương mại của đất nước, là Thành phố Hồ Chí Minh, còn được biết đến với tên gọi cũ là Sài Gòn.
Việt Nam đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường từ cuối thập niên 1980. Việt Nam cam kết hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và tự do hóa thương mại thông qua việc gia nhập APEC, Khu vực Thương mại tự do ASEAN, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) (tháng 1 năm 2007), và một mạng lưới các hiệp định thương mại tự do đang gia tăng, bao gồm Hiệp định thành lập Khu vực Thương mại tự do ASEAN – Ốx-trây-lia – Niu Di-lân (AANZFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA).
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP, là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam.
Hiệp định đã được ký kết ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại thành phố San-ti-a-gô, Chi-lê, và chính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 2018 đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mê-hi-cô, Nhật Bản, Xinh-ga-po, Niu Di-lân, Ca-na-đa và Ốt-xtrây-lia. Đối với Việt Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2019.
Với tổng cộng 30 chương, CPTPP bao gồm gần như tất cả các khía cạnh thương mại giữa 11 thành viên CPTPP. Hiệp định có các cam kết tiếp cận thị trường đầy tham vọng trong thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, dịch chuyển lao động và mua sắm chính phủ. Hiệp định cũng thiết lập các quy tắc rõ ràng giúp tạo ra một môi trường kinh doanh nhất quán, minh bạch và công bằng tại các thị trường CPTPP, với các chương dành riêng cho các vấn đề chính như rào cản kỹ thuật đối với thương mại, các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật, quản lý hải quan, minh bạch và doanh nghiệp nhà nước. Ngoài ra, CPTPP có các chương về bảo vệ môi trường và quyền lao động, có thể được thi hành bằng giải quyết tranh chấp, để đảm bảo rằng các thành viên CPTPP thực hiện các cam kết của họ trong các lĩnh vực này nhằm tăng cường thương mại hoặc đầu tư. Thỏa thuận cũng bao gồm nhiều chương khác nhau hướng tới hợp tác kỹ thuật liên quan đến thương mại giữa các thành viên CPTPP, bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển và đồng bộ cơ sở pháp lý.
Các thành viên CPTPP cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với gần như tất cả các dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu. Các cam kết về tiếp cận thị trường được nêu chi tiết trong từng dòng thuế trong Biểu thuế nhập khẩu của CPTPP.
Các cam kết về việc xóa bỏ và giảm thuế nhập khẩu trong CPTPP được chia thành ba nhóm chính:
Thuế xuất khẩu và các loại phí khác: Malaysia và Việt Nam duy trì thuế xuất khẩu, thuế hoặc các khoản phí khác được liệt kê trong Phụ lục 2-C của Chương 2.
Cam kết của Việt Nam:
- Danh sách từ A đến J: Xóa bỏ thuế xuất khẩu theo lộ trình cắt giảm cho từng danh mục
- Danh sách K: duy trì thuế xuất khẩu nhưng không vượt quá mức thuế suất cơ bản.
Chương 10 của CPTPP về thương mại dịch vụ xuyên biên giới bao gồm các quy tắc hướng tới tạo thuận lợi cho việc trao đổi dịch vụ, được xây dựng trên các cam kết tại Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO năm 1995 (GATS), cụ thể như sau:
- Đối xử quốc gia (NT): Nước thành viên phải đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ của nước CPTPP khác được đối xử không kém thuận lợi hơn các nhà cung cấp dịch vụ trong nước.
- Đối xử tối huệ quốc (MFN): Nước thành viên phải đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ của một nước CPTPP được đối xử không kém thuận lợi hơn các các nhà cung cấp dịch vụ của các nước thành viên khác hoặc của bất cứ nước hay vùng lãnh thổ không phải là thành viên của hiệp định, và
- Tiếp cận thị trường (MA): Nước thành viên không được phép duy trì các biện pháp hạn chế tiếp cận thị trường đối với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.
Ngoài ra, CPTPP cũng quy định không Bên nào được yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ của Bên khác thiết lập hoặc duy trì hiện diện tại nước sở tại tại lãnh thổ của bên đó như một điều kiện để cung cấp dịch xuyên biên giới.
Ngoài các nghĩa vụ trên, CPTPP cho phép mỗi Bên duy trì linh hoạt chính sách thông qua các bảo lưu gọi là "các biện pháp không tương thích" (NCMs), cho phép Chính phủ các Bên duy trì các ngoại lệ trong các chương về dịch vụ và đầu tư tại CPTPP bằng cách liệt kê các biện pháp hoạt động hoặc lĩnh vực cụ thể mà tại đó các nghĩa vụ trên không được áp dụng. Điều này giúp đảm bảo các Chính phủ có thể tiếp tục giữ các biện pháp và chính sách về dịch vụ và đầu tư, dựa trên các ưu tiên trong nước. Danh sách NCMs được trình bày tại Phụ lục I và II của Hiệp định.
CPTPP có chương riêng về Dịch vụ Tài chính, bao gồm các biện pháp được các nước CPTPP thông qua hoặc duy trì liên quan đến tổ chức tài chính, nhà đầu tư và các khoản đầu tư tương ứng của họ vào tổ chức tài chính, và thương mại xuyên biên giới về dịch vụ tài chính. Được xây dựng dựa trên nghĩa vụ đối xử quốc gia, nghĩa vụ MFN và tiếp cận thị trường theo GATS, chương Dịch vụ Tài chính:
• bao gồm các nghĩa vụ về minh bạch hóa nhằm giúp nhà cung cấp dịch vụ tài chính định hướng tốt hơn khuôn khổ pháp lý tại các nước CPTPP (ví dụ, bằng cách thiết lập quy tắc quy định các nước CPTPP cần đăng tải trước các quy định của ngành tài chính)
• tạo cơ hội cho các cơ quan tài chính thảo luận thông qua ủy ban về bất cứ vấn đề nào liên quan đến ngành tài chính (ví dụ, để tránh hoặc giải quyết các rào cản không cần thiết khi tham gia thị trường mà các tổ chức tài chính gặp phải tại các nước CPTPP)
• kết hợp các biện pháp bảo vệ từ chương đầu tư để bảo vệ các nhà đầu tư dịch vụ tài chính và các khoản đầu tư dịch vụ tài chính, và
• bao gồm ngoại lệ thận trọng, đảm bảo các cơ quan tài chính có thể thực hiện các biện pháp vì lý do thận trọng để bảo vệ sự vững chắc của hệ thống tài chính và lợi ích của người tiêu dùng dịch vụ tài chính mà không vi phạm CPTPP.
Theo Phụ lục III của Hiệp định, mỗi nước CPTPP liệt kê NCMs trong dịch vụ tài chính, được sắp xếp vào hai phần:
• Phần A bao gồm các bảo lưu cho các NCMs hiện tại mà các nước CPTPP không thể hạn chế hơn trong tương lai; và
• Phần B bao gồm các bảo lưu cho lĩnh vực và hoạt động mà các nước CPTPP mong muốn duy trì tính linh hoạt chính sách trong hiện tại và tương lai. Vì mục đich minh bạch, Phần B cũng có thể bao gồm một danh sách không đầy đủ các biện pháp hiện tại áp dụng cho các lĩnh vực hoặc hoạt động được bảo lưu.
Các chương riêng về Viễn thông và Thương mại điện tử cũng được đưa vào CPTPP do vai trò ngày càng quan trọng là phương tiện vận chuyển dịch vụ và hỗ trợ thương mại quốc tế, đặc biệt là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các nghĩa vụ tại chương Viễn thông áp dụng cho các biện pháp của chính phủ ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ viễn thông, với mục tiêu đảm bảo các công ty viễn thông của các Nước thành viên CPTPP được đối xử công bằng ở các thị trường quốc gia đó. Các quy định này bao gồm một bộ quy tắc toàn diện để đảm bảo các công ty viễn thông lớn với vị trí thống lĩnh thị trường cung cấp cho các nhà cung cấp viễn thông nước ngoài quyền truy cập vào các dịch vụ và cơ sở hạ tầng quan trọng theo các điều khoản và điều kiện hợp lý. Các quy tắc này sẽ giúp các nhà cung cấp hiện tại chắc chắn hơn về điều kiện hoạt động và không gian để các nước mới tham gia vào thị trường.
Chương Thương mại Điện tử ("e-commerce") đảm bảo các giao dịch điện tử giữa các nước CPTPP diễn ra hiệu quả với những biện pháp bảo vệ người tiêu dùng phù hợp. Chương này cũng bao gồm các nguyên tắc mới ủng hộ sự mở rộng vai trò của internet trong thương mại quốc tế. Các nghĩa vụ của chương e-commerce hoạt động cùng với các nguyên tắc được đặt ra tại các chương Thương mại Xuyên Biên giới trong Dịch vụ, Đầu tư và Dịch vụ Tài chính, bao gồm các ngoại lệ ("các biện pháp không tương thích") được duy trì bởi các Nước thành viên CPTPP theo các chương này.
Theo CPTPP, mỗi Bên đảm bảo quyền tiếp cận thị trường cho các nhà đầu tư từ một Bên khác, cũng như các dịch vụ được cung cấp trên lãnh thổ của Bên đó bằng khoản đầu tư được bảo hộ của các nhà đầu tư, theo các nguyên tắc được nêu trong Chương 9 của CPTPP về Đầu tư.
Ngoài nghĩa vụ đối xử quốc gia (NT) và đối xử tối huệ quốc (MFN) như trong lĩnh vực Dịch vụ Thương mại Xuyên Biên giới, chương Đầu tư của Hiệp định CPTPP có một số nghĩa vụ chính như sau:
Tương tự như thương mại dịch vụ xuyên biên giới, CPTPP cho phép mỗi Bên duy trì một danh sách các các biện pháp không tương thích (NCM) trong lĩnh vực đầu tư, giúp đảm bảo rằng các chính phủ có thể tiếp tục duy trì các biện pháp và chính sách đầu tư dựa trên các ưu tiên trong nước, cũng như bảo lưu các lĩnh vực hoặc hoạt động muốn duy trì hoàn toàn tính linh hoạt chính sách trong hiện tại và tương lai. Danh sách các NCM được trình bày trong Phụ lục I và II của Hiệp định.
Trong Phụ lục I, mỗi quốc gia CPTPP có một danh sách các biện pháp không tương thích ảnh hưởng đến các dịch vụ và đầu tư đã tồn tại ở quốc gia đó tại thời điểm CPTPP được ký kết và quốc gia đó dự định duy trì. Các biện pháp này không cần phải thay đổi ngay cả khi chúng không phù hợp với một số nghĩa vụ nhất định trong Hiệp định. Các quốc gia cũng đưa ra cam kết rằng các biện pháp không tương thích được liệt kê trong Phụ lục I sẽ không bị hạn chế hơn trong tương lai (được gọi là cơ chế chỉ tiến không lùi - “ratchet”). Đối với Việt Nam, cơ chế chỉ tiến không lùi chỉ áp dụng ba năm sau khi có hiệu lực của CPTPP.
Trong Phụ lục II, mỗi quốc gia CPTPP có bảo lưu cho các lĩnh vực hoặc hoạt động mà quốc gia đó muốn duy trì hoàn toàn sự linh hoạt chính sách trong hiện tại và tương lai. Điều này cho phép Việt Nam duy trì sự linh hoạt chính sách trong các lĩnh vực nhạy cảm như quyền sở hữu đất đai, các vấn đề liên quan đến bản địa và thiểu số, văn hóa và dịch vụ xã hội (bao gồm cả y tế và giáo dục công cộng) và một số dịch vụ vận tải. Các bảo lưu này cho phép mỗi quốc gia CPTPP đưa ra các biện pháp mới trong các lĩnh vực này trong tương lai dựa trên các ưu tiên trong nước, bất kể các cam kết của họ trong CPTPP.
Liên minh châu Âu hiện là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2019 là 56,5 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 41,5 tỷ USD, nhập khẩu từ EU đạt 14,9 tỷ USD. EVFTA là một Hiệp định toàn diện với những đảm bảo cho cả Việt Nam và EU, và cũng tính đến khoảng cách phát triển giữa hai bên.
"EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng lợi ích của cả Việt Nam và EU. EVFTA bao gồm mười bảy 17) chương, mười tám (18) phụ lục, bốn tuyên bố chung, hai nghị định thư và hai biên bản ghi nhớ về một số khía cạnh điển hình trong các FTA. Một số chương và điều khoản của Hiệp định không yêu cầu sửa đổi pháp luật trong nước để thực thi. "
EVFTA có thể thúc đẩy mạnh mẽ và đẩy nhanh quá trình cải cách trong nước theo hướng minh bạch và thuận lợi hóa thương mại. Bên cạnh những tác động khác, EVFTA sẽ giúp thúc đẩy cạnh tranh, hợp tác và nâng cao năng lực, kích thích phát triển các ngành dịch vụ, bao gồm dịch vụ tài chính, viễn thông và nhập cảnh tạm thời của các nhà cung cấp dịch vụ. Nhiều điều khoản của EVFTA cũng sẽ kích thích cải cách thể chế nhằm củng cố và chuẩn hóa các quy tắc, thúc đẩy tính minh bạch và hỗ trợ tạo ra các thể chế hiện đại ở Việt Nam, đặc biệt là trong các lĩnh vực môi trường, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ, đầu tư, tiêu chuẩn lao động, vấn đề pháp lý, quy tắc xuất xứ , các biện pháp phi thuế quan.
EVFTA là FTA thế hệ mới lớn nhất về lợi ích. Khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ loại bỏ thuế nhập khẩu đối với 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau bảy năm, EU sẽ loại bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% dòng thuế, tương đương với 99,7% hàng xuất khẩu của Việt Nam; đối với 0,3% còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam một lượng hạn ngạch thuế quan với mức thuế nhập khẩu là 0%. Đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết loại bỏ 48,5% dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Sau đó, sau 7 năm, 91,8% dòng thuế tương đương 97,1% hàng xuất khẩu của EU sẽ được gỡ bỏ. Sau 10 năm, 98,3% dòng thuế sẽ được loại bỏ; đối với 1,7% dòng thuế còn lại của EU, Việt Nam sẽ áp dụng lộ trình bãi bỏ thuế nhập khẩu hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan phù hợp với các cam kết của WTO.
Quy tắc xuất xứ (ROO): là một vấn đề thách thức được phản ánh bởi các ngưỡng nghiêm ngặt cả về nguồn gốc trong nước tối thiểu hoặc nguyên liệu có nguồn gốc ngoài khu vực FTA ở mức tối đa (bên cạnh những yếu tố khác). Chương ROOs khuyến nghị tăng cường sản xuất trong nước và tăng giá trị xuất khẩu bên cạnh những yếu tố khác.
Có một số điểm khác biệt nhất định với Hiệp định SPS của WTO, nhưng cam kết về SPS trong EVFTA không thay đổi mức độ cam kết của EU và Việt Nam trong Chương SPS một cách đáng kể mà cung cấp thêm các hướng dẫn hoặc yêu cầu kỹ thuật tạo thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ hiện tại của WTO, chẳng hạn như các yêu cầu về tính minh bạch và hỗ trợ kỹ thuật.
EVFTA bao gồm một số điều khoản để cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường song phương cho các công ty của EU và Việt Nam trong các lĩnh vực dịch vụ. Bao gồm những thay đổi về quy định ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ xuyên biên giới và sự hiện diện thương mại xuyên biên giới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài
Cam kết tiếp cận thị trường và các cam kết đối xử quốc gia của cả EU và Việt Nam trong các lĩnh vực dịch vụ cao hơn cả các nghĩa vụ trong Hiệp định GATS. EU đồng ý dành cho Việt Nam sự đảm bảo rằng mức độ mở cẳ thị trường hiện tại của họ sẽ không thay đổi, tức là Việt Nam sẽ được hưởng mức cam kết cao nhất của EU trong các FTA gần đây của mình. Đối với Việt Nam, cam kết cải thiện đáng kể về khả năng tiếp cận của các công ty EU đối với nhiều lĩnh vực dịch vụ, bao gồm dịch vụ kinh doanh, dịch vụ môi trường, dịch vụ bưu chính và chuyển phát nhanh, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm và vận tải hàng hải, trong số những ngành khác.
Các cam kết chung về tự do hóa thương mại dịch vụ trong EVFTA bao gồm:
Các cam kết chung về tự do hóa đầu tư trong EVFTA bao gồm:
EVFTA bao gồm các cam kết về tiếp cận thị trường thông qua hiện diện thương mại trong một số lĩnh vực sản xuất chính, như sản xuất thực phẩm và đồ uống, phân bón và vật liệu nitơ tổng hợp, lốp xe và ống, găng tay và sản phẩm nhựa, gốm sứ và vật liệu xây dựng.
Đặc biệt, theo một thỏa thuận riêng về đầu tư (Hiệp định bảo hộ đầu tư EU - Việt Nam [EVIPA]), Việt Nam và EU đều đồng ý dành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đối với các nhà đầu tư của bên kia, cũng như sự đối xử công bằng và đầy đủ, bảo vệ toàn diện và an ninh. Việc tự do di chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài cũng sẽ được đảm bảo, và cả hai bên đã đồng ý không trưng thu hoặc quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư mà không có bồi thường thích hợp. Một cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư vĩnh viễn sẽ được thiết lập thông qua thành lập hệ thống tòa án đầu tư độc lập.