Giá gạo bán tại Nhật Bản liên tục có xu hướng tăng từ cuối năm 2024 do nguyên nhân thiếu hụt nguồn cung. Đầu năm 2025, Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản công bố giá bán lẻ một bao gạo 5kg là 4.051 yen (tương đương 27,4 USD), tăng 77% so với năm 2024. Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp (NLNN) công bố giá gạo bán buôn cũng tăng cao nhất kể từ năm 1990, ở mức 25.927 yen (175 USD) cho mỗi bao 60 kg. Giá gạo tăng cao hơn nhiều giá các thực phẩm thiết yếu vốn chỉ tăng theo lạm phát như các loại mì hay bánh mì.
Sự thiếu hụt nguồn cung gạo tại Nhật Bản xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm lượng gạo lưu kho thấp kỷ lục cũng như sự gia tăng chưa từng có trong nhu cầu tiêu thụ khi người dân mua nhiều gạo hơn thông thường do lo ngại hậu quả của các trận bão và động đất, cùng với đó là số lượng rất lớn khách du lịch trở lại Nhật Bản sau đại dịch Covid-19.
Giá gạo trong nước tăng cao thúc đẩy sự gia tăng nhu cầu nhập khẩu gạo từ nước ngoài. Tại Nhật Bản, gạo là hàng hóa được giao dịch bởi Chính phủ; Bộ NLNN kiểm soát việc nhập khẩu gạo thông qua đấu thầu. Theo quy định WTO, Chính phủ Nhật Bản cam kết nhập khẩu tối thiểu 682.000 tấn gạo mỗi năm trong mức hạn ngạch thuế quan (TRQ). Bộ NLNN nhập khẩu tối đa 100.000 tấn gạo trong hạn ngạch thuế quan theo cơ chế Mua - bán đồng thời (Simultaneous Buy and Sell - SBS). Nhà xuất khẩu nước ngoài đấu thấu để nhận được quyền bán trong khi nhà nhập khẩu và nhà bán buôn trong nước cùng đấu thầu để nhận được quyền mua gạo. Bộ NLNN nhập khẩu lượng gạo cam kết còn lại theo cơ chế Tiếp cận thị trường thông thường (Ordinary Market Access - OMA), sau đó bán lại cho người tiêu dùng trong nước cho các mục đích chế biến, làm thức ăn chăn nuôi hoặc lưu kho dự trữ cho các mục đích cứu trợ.
Bộ NLNN chào thầu 25.000 tấn cho mỗi phiên đấu thầu cho tới khi đạt được hạn mức 100.000 tấn vào cuối năm 2024 - lần đầu tiên đạt hạn mức này kể từ năm 2017. Đối tác cung ứng gạo lớn nhất lần lượt là Hoa Kỳ (tỷ trọng 61%), Úc (14%) và Thái Lan (7,5%). Gạo hạt trung bình (loại gạo khá tương đồng với gạo hạt ngắn Japonica – loại gạo chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ tại Nhật Bản) được ưa chuộng nhất, chiếm tỷ trọng 65%.
Bộ NLNN ban hành một định giá cộng thêm (price markup) đối với gạo nhập khẩu theo cơ chế SBS, được tính toán dựa trên cơ sở các nhân tố kinh tế. Dựa trên nhu cầu tăng cao, sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà thầu cùng giá gạo nội địa cao, định giá cộng thêm cho gạo nhập khẩu bị đẩy lên mức kỷ lục 292 yen/kg vào cuối năm 2024 (con số này trong giai đoạn 2018 – 2023 ổn định ở mức 61 yen/kg.
Khi nhập khẩu ngoài mức hạn ngạch SBS, nhà nhập khẩu cần trả mức thuế nhập khẩu 341 yen/kg (2,3 USD/kg). Thống kê cho thấy việc nhập khẩu ngoài hạn ngạch này thường không xảy ra do mức thuế quan quá cao, không mang tính kinh tế. Tuy nhiên sau khi lượng nhập khẩu đạt đủ hạn ngạch SBS vào cuối năm 2024, các doanh nghiệp bắt đầu mua gạo ngoài hạn ngạch thông qua các nhà nhập khẩu tư nhân. Theo các nhà nhập khẩu, giá gạo nhập khẩu vẫn cạnh tranh hơn so với giá gạo nội địa mặc cho mức thuế quan 341 yen/kg. Thống kê của Bộ NLNN cho thấy lượng nhập khẩu gạo ngoài hạn ngạch năm 2024 cao hơn 170% so với năm 2023.
Bên cạnh các đối tác lớn truyền thống như Hoa Kỳ, Thái Lan, Trung Quốc, Úc, việc Nhật Bản tăng cường tìm kiếm các nguồn nhập khẩu gạo nước ngoài giá rẻ đang mở ra cơ hội thâm nhập và thiết lập chỗ đứng trên thị trường này cho những nước xuất khẩu gạo như Việt Nam, Đài Loan, Ấn Độ, Pakistan…
Nhập khẩu gạo của Nhật Bản trong 8 tháng đầu năm 2025
|
Đối tác |
Lượng nhập khẩu |
Tăng/giảm |
Giá trị nhập khẩu |
Tăng/giảm |
|
Tổng |
540.921 |
2,2% |
423,5 |
-9,4% |
|
Hoa Kỳ |
269.410 |
7,0% |
234,5 |
-10,7% |
|
Thái Lan |
165.153 |
-26,9% |
94,2 |
-40,0% |
|
Úc |
43.003 |
126,1% |
35,3 |
115,5% |
|
Trung Quốc |
37.168 |
47,2% |
29,2 |
36,3% |
|
Đài Loan |
9.868 |
604,4% |
10,6 |
640,0% |
|
Ấn Độ |
6.978 |
165,5% |
9,5 |
132,6% |
|
Việt Nam |
4.913 |
404,9% |
4,3 |
389,7% |
|
Pakistan |
2.763 |
80,0% |
3,8 |
64,4% |
Nguồn: Số liệu thống kê của Hải quan Nhật Bản
Chính phủ Nhật Bản lưu kho khoảng 1 tấn gạo dự trữ phòng khi mất mùa, thiên tai hay những trường hợp khẩn cấp khác. Quý I năm 2025, Bộ NLNN công bố xuất kho 210.000 tấn gạo dự trữ nhằm cải thiện tình trạng phân phối kém hiệu quả, từ đó giúp kiềm chế giá gạo. Đây là lần đầu tiên Chính phủ Nhật Bản giải phóng kho dự trữ cho mục đích không liên quan đến thiên tai hay mất mùa, kể từ khi kho dự trữ này được xây dựng vào 1995. Bộ NLNN cũng sửa đổi quy định cho phép gạo dự trữ sẽ được xuất kho vì những lí do liên quan đến phân phối kém hiệu quả, với điều kiện nguyên tắc Bộ NLNN sẽ mua lại lượng gạo tương đương từ các nhà phân phối trong vòng 1 năm sau đó.
Bộ NLNN công bố lý do xuất kho lần này là nhằm điều tiết phân phối gạo trên thị trường, giảm động cơ tích trữ của người dân – điều đã khiến giá gạo tăng cao. Bộ NLNN tuyên bố hiện nay nguồn cung gạo đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tại Nhật Bản, đồng thời những bất cập trong khâu phân phối có thể bắt nguồn từ việc nhiều người bán háng đầu cơ chờ đợi giá gạo tiếp tục tăng. Bộ NLNN điều tiết quá trình phân phối lượng gạo dự trữ ra thị trường thông qua việc yêu cầu các nhà phân phối báo cáo mỗi hai tuần một lần về số lượng và giá trị gạo đã được bán ra. Bộ NLNN khẳng định sẽ tiếp tục xuất kho dự trữ nếu hiệu quả phân phối không được cải thiện.
Mặc dù nhu cầu tiêu thụ tăng cao đột biến trong hiện tại, Bộ NLNN vẫn dự báo tiêu thụ gạo tại Nhật Bản sẽ có xu hướng giảm trong dài hạn do vấn đề già hóa dân số và sự sụt giảm mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người. Bộ NLNN công bố dự báo về cung - cầu gạo 3 hoặc 4 lần trong năm. Nông dân Nhật Bản căn cứ những dự báo này để tính toán phương án sản xuất phù hợp, hoặc cân nhắc chuyển đổi từ trồng lúa gạo sang các loại ngũ cốc khác như lúa mì, đậu nành, hoặc trồng lúa làm thức ăn chăn nuôi, trong bối cảnh họ có thể nhận được trợ cấp của Chính phủ cho việc chuyển đổi này thông qua chương trình “Trợ cấp trực tiếp cho tối ưu hóa sản xuất lúa gạo”.
Trước những ý kiến cho rằng trợ cấp của Chính phủ góp phần làm giảm hiệu quả sản xuất lúa gạo hơn mức cần thiết, Bộ NLNN hiện đang rà soát sửa đổi chương trình trợ cấp theo hướng hỗ trợ nâng cao năng suất, thông qua các khoản trợ cấp trực tiếp cho những nông dân áp dụng công nghệ thông minh trong sản xuất. Bộ NLNN dự kiến sẽ công bố chương trình trợ cấp mới vào năm 2027, với mục tiêu cao nhất là thúc đẩy sản xuất và cung ứng gạo một cách ổn định, đảm bảo an ninh lương thực của Nhật Bản.
Cơ hội và thách thức cho gạo Việt Nam
Dù cánh cửa thị trường Nhật Bản đang mở rộng hơn, gạo Việt Nam nhập ngoài hạn ngạch vẫn phải chịu mức thuế rất nặng – 341 yen/kg. Điều đó khiến doanh nghiệp xuất khẩu phải hoạch định chiến lược rõ ràng, đặc biệt là định vị sản phẩm ở phân khúc trung – cao cấp để có thể cân đối chi phí.
Ngày càng nhiều chuỗi bán lẻ, nhà hàng và doanh nghiệp nhập khẩu của Nhật Bản quan tâm hơn đến gạo Việt không chỉ vì giá, mà còn bởi sự phù hợp với khẩu vị châu Á. Tuy nhiên, Nhật Bản vốn nổi tiếng là thị trường khắt khe về chất lượng và an toàn thực phẩm, nên muốn giữ vững sản lượng xuất khẩu, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào mức giá cạnh tranh.
Hiện nay ngành gạo Việt Nam đang nỗ lực dịch chuyển từ hình ảnh “cạnh tranh về giá” sang “cạnh tranh về chất lượng”. Dù vậy, khoảng cách giữa hai quốc gia về công nghệ sản xuất, quy trình bảo quản – chế biến sau thu hoạch và hệ thống kiểm soát chất lượng vẫn còn lớn. Đây là những yếu tố then chốt mà ngành gạo Việt cần tiếp tục cải thiện nếu muốn củng cố vị thế ở các thị trường khó tính như Nhật Bản. Nếu chỉ tập trung vào lợi thế giá thấp, gạo Việt Nam có thể dễ dàng bị mất ưu thế khi thị trường điều chỉnh trở lại. Trái lại, tăng cường đầu tư chiều sâu vào chất lượng giống, nâng cấp logistics, minh bạch hóa thương hiệu và xây dựng chuỗi giá trị bền vững… có thể là những yếu tố giúp gạo Việt đứng vững hơn trên thị trường Nhật Bản nói riêng và thị trường thế giới nói chung.
Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương
Nguồn tham khảo:
- Số liệu thống kê của Hải quan Nhật Bản;
- Báo cáo về Quy định và tiêu chuẩn nhập khẩu thực phẩm và nông sản vào Nhật Bản (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ);
- Sổ tay hướng dẫn nhập khẩu thực phẩm vào Nhật Bản (Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản - JETRO).
