Tin tức

Phân tích cảnh báo các mặt hàng xuất khẩu sang các thị trường đối tác FTA thế hệ mới có nguy cơ bị áp dụng biện pháp chống lẩn tránh, gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp hoặc biện pháp PVTM trong Quý I/2022

Thứ Năm, 09/11/2023


 

 

  1. Tình hình sản xuất, xuất khẩu dệt may của Việt Nam

Ngành Công nghiệp dệt may Việt Nam trong những năm gần đây được đánh giá đã có những bước tiến tích cực cả về sản xuất và xuất khẩu. Trong đó, tốc độ tăng trưởng trong sản xuất của ngành dệt may bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt 7,9%/năm, riêng năm 2018 tăng trên 33%. Năm 2020, ngành dệt may là một trong những ngành chịu nhiều tác động tiêu cực và kéo dài của đại dịch Covid-19. Do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, nên chỉ số sản xuất công nghiệp ngành dệt giảm 0,5%; ngành Sản xuất trang phục giảm 4,9%, làm đứt gãy nguồn cung nguyên liệu, thu hẹp thị trường tiêu thụ các sản phẩm may mặc, nhu cầu sản phẩm dệt may giảm sút mạnh khi người tiêu dùng trên thế giới chỉ quan tâm đến đồ dùng thiết yếu và phòng chống dịch. Trong 9 tháng năm 2021, ngành dệt may đã có nhiều tín hiệu khởi sắc hơn so với cùng kỳ năm trước nhờ chuỗi sản xuất phục hồi với đơn hàng truyền thống tăng trở lại. Chỉ số sản xuất ngành dệt và Sản xuất trang phục trong 9 tháng năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm 2020, trong đó, chỉ số sản xuất ngành dệt tăng 7,8%; ngành sản xuất trang phục tăng 4,8%. Chỉ số sản xuất của một số sản phẩm trong 9 tháng năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm 2020, như: vải dệt từ sợi tự nhiên ước tính đạt 501,5 triệu m2, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2020; sản xuất vải dệt từ sợi tổng hợp và sợi nhân tạo đạt 860,4 triệu m2, tăng 4,9%; quần áo mặc thường đạt 3.411,2 triệu cái, tăng 4,5%. Đáng chú ý, so với cùng thời điểm trước đại dịch (9 tháng đầu năm 2019), sản xuất vải dệt từ sợi tự nhiên của Việt Nam tăng 5,4%; trái lại, sản xuất vải dệt từ sợi nhân tạo hoặc tổng hợp và sản xuất trang phục giảm lần lượt là 2,4% và 10%. 

Cùng với sản xuất, xuất khẩu toàn ngành dệt, may mặc của Việt Nam cũng đã đạt được kết quả đáng khích lệ trong những năm gần đây. Năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dệt may phục hồi khả quan dù trải qua nhiều yếu tố khó khăn. Trong năm 2021, ngành dệt may đạt kim ngạch 39 tỷ USD, tăng trưởng 11% so với năm 2020, mức kim ngạch này tương đương với giá trị trước thời điểm Covid-19 (năm 2019).

Hình: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam

Chart, line chart, histogram

Description automatically generated

Nguồn: BSC

Theo số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, tính chung 3 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dệt may đạt 8.678.359 nghìn USD, tăng 20,43% so với 3 tháng đầu năm 2021, nhờ nhu cầu tăng bật sau khi dồn nén bởi đại dịch COVID-19 và sự phục hồi sản xuất của các doanh nghiệp trong nước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng dệt may sang thị trường Hàn Quốc đạt 754.167 nghìn USD, tăng 6,85% so với cùng kỳ năm 2021.

Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang các nước trong Quý I/2022

Có thể thấy, thị trường xuất khẩu dệt may chính của Việt Nam trong Quý I/2022 là Hoa Kỳ với 4.361.886 nghìn USD, chiếm 50,26% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam; tiếp đến là Nhật Bản với 771.409 nghìn USD, chiếm 8,89% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam. Đứng thứ 3 là Hàn Quốc với 754.167 nghìn USD, chiếm 8,69% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam. CHND Trung Hoa và Canada là thị trường xuất khẩu dệt may thứ 4 và thứ 5 của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu lần lượt là 291.588 nghìn USD (chiếm 3,36%) và 276.885 nghìn USD (chiếm 3,19%). McKinsey, công ty tư vấn quản lý toàn cầu cho biết doanh số bán hàng thời trang toàn cầu đang trên đà tăng trưởng vào năm 2022. Tuy nhiên, ngành công nghiệp thời trang đang phải đối mặt với áp lực giá nguyên liệu cao vì chiến tranh Nga - Ukraine. Do căng thẳng leo thang, giá dầu thế giới đã tăng mạnh. Điều này có nghĩa là các loại sợi dệt có nguồn gốc từ dầu mỏ, chẳng hạn như polyester, có thể phải đối mặt với áp lực giá rất lớn. Khi sợi nhân tạo trở nên đắt hơn, nhu cầu đối với sợi tự nhiên cũng có thể tăng lên, kéo dài lạm phát giá đối với sợi tự nhiên. Hơn nữa, việc đóng cửa ở Thượng Hải gần đây có thể đe dọa chuỗi cung ứng hàng may mặc, việc giao nhận hàng hóa chậm trễ liên quan đến việc kiểm soát COVID, gây bất lợi đến ngành công nghiệp may mặc. Bởi thực tế, 50% nguyên liệu đầu vào của ngành dệt may Việt Nam được nhập khẩu từ Trung Quốc.

2. Đặc điểm ngành dệt may của Hàn Quốc

Tầm quan trọng của ngành dệt may

Ngành dệt may của Hàn Quốc đang phục hồi như một ngành kinh doanh tăng trưởng có giá trị cao với công nghệ tiên tiến. Ngành kinh doanh này, từng là ngành hàng đầu chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước trong những năm 1970, đã rơi vào tình trạng suy thoái trong những thập kỷ gần đây cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ trong các lĩnh vực như điện tử và ô tô. Tuy nhiên, ngành dệt may vẫn giữ vai trò quan trọng và bao gồm nhiều hoạt động tích hợp theo chiều dọc. Ngành dệt may của Hàn Quốc có cơ cấu công nghiệp phụ thuộc vào nước ngoài và định hướng xuất khẩu, trong đó 1/3 nguyên liệu thô được nhập khẩu và xử lý để tạo thành phẩm và 2/3 thành phẩm được xuất khẩu ra nước ngoài. Xuất khẩu dệt may năm 2021 là 12,81 tỷ USD, nhập khẩu là 18,3 tỷ USD, khiến cán cân thương mại hàng hóa thâm hụt 5,49 tỷ USD. Cán cân thương mại của ngành dệt may và thời trang ghi nhận thặng dư hơn 10 tỷ đô la mỗi năm kể từ năm 1987, khi lần đầu tiên đạt kim ngạch xuất khẩu 10 tỷ đô la trong một ngành, đến năm 2001. Ngành dệt may và thời trang trong nước có 44.931 nhà sản xuất, chiếm 10,2% toàn ngành sản xuất và số lượng lao động là 268.918 người, chiếm 6,5%. Tổng số công ty trong ngành dệt may, bao gồm các công ty liên quan khi tính cả các ngành bán buôn và bán lẻ dệt may, thời trang và dịch vụ là 288.953 và số lượng lao động là 804.839 người.

Hơn nữa, đây là một nhà xuất khẩu đáng kể - đặc biệt là hàng dệt may - xuất phát từ thực tế là sở hữu một ngành công nghiệp sợi tổng hợp rộng lớn. Nhìn về tương lai, ngành đã bắt tay vào chiến lược tập trung phát triển các nguyên liệu dệt may mới nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho hàng xuất khẩu. Đặc biệt, trọng tâm sẽ là sợi thông minh, sợi nano và siêu sợi công nghệ cao.

Sản xuất và xuất khẩu

Trong những năm 1960, mục tiêu kinh tế của Hàn Quốc là thoát khỏi tình trạng đói nghèo tuyệt đối và thu đổi ngoại hối cần thiết để nhập khẩu nguyên vật liệu. Để giải quyết những vấn đề trên, Hàn Quốc đã thay đổi chiến lược tăng trưởng từ thay thế nhập khẩu sang xúc tiến xuất khẩu. Phát triển ngành dệt may trở thành ngành công nghiệp theo hướng xuất khẩu. Các ngành công nghiệp cần nhiều lao động như dệt may có thể mở rộng xuất khẩu thông qua cạnh tranh giá dựa trên mức lương thấp và lực lượng lao động dồi dào. Ngành kéo sợi và dệt bông đã đạt mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhờ chính sách xúc tiến xuất khẩu của Chính phủ trong những năm 1960. Việc sản xuất sợi polyester vào năm 1968 giúp ngành công nghiệp dệt may Hàn Quốc bước vào những giai đoạn mới của sự phát triển. Thời kỳ của sợi polyester bắt đầu khi vận hành nhà máy sản xuất sợi xơ ngắn năm 1968 và sợi xơ dài năm 1969. Sản xuất sợi polyester tại Hàn Quốc góp phần đáng kể vào việc cải thiện khả năng cạnh tranh xuất khẩu của ngành công nghiệp bông và len. Sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành dệt may trong những năm 1970 góp phần tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc. Trong thập niên 1970, xuất khẩu sợi bông và vải của Hàn Quốc tăng đáng kể nhờ hỗ trợ của Chính phủ trong việc thu mua nguyên liệu thô để xuất khẩu và chuyển sang các nhà nhập khẩu Nhật Bản. Giai đoạn 1980 xây dựng tổ hợp nhuộm và hoàn tất để theo đuổi giá trị gia tăng cao hơn, đáp ứng tăng cường cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Nhờ những chính sách xúc tiến của Chính phủ, xuất khẩu lần đầu tiên vượt quá 10 tỉ đô la vào năm 1987. Chi phí sản xuất tăng cao do tăng lương và tranh chấp lao động vào cuối những năm 1980, các công ty dần chuyển cơ sở sản xuất sang các nước đang phát triển như Trung Quốc, Indonesia và Việt Nam - nơi có nguồn lao động giá rẻ và dồi dào. Xuất khẩu bắt đầu sụt giảm vào năm 2000 do không thể cạnh tranh với Trung Quốc ở thị trường sản phẩm giá thấp đến trung bình, và với Ý, Nhật Bản… ở các sản phẩm giá cao. Do vậy, Hàn Quốc thực hiện đa dạng hóa và giá trị gia tăng của sản phẩm cao hơn thông qua việc nghiên cứu và phát triển để tăng cường cạnh tranh về giá với các nước đang phát triển. Trong đó, sợi hóa học: dịch chuyển cấu trúc sản xuất tập trung vào sợi tổng hợp có độ bền cao, sợi chức năng tổng hợp cao, sợi nhỏ và vật liệu có tính đàn hồi cao; vải: chuyển sang cơ cấu sản xuất tiên tiến tập trung vào các loại vải mỏng nhẹ, vải tổng hợp, vải chức năng cao và vải dệt thiết kế; hàng may mặc: duy trì lợi thế cạch tranh thông qua phát triển thiết kế, chất liệu thời trang và thương hiệu độc lập. Ngành công nghiệp dệt may của Hàn Quốc đã nâng cao khả năng cạnh tranh do nâng cấp cơ cấu ngành và thúc đẩy sản xuất sợi kĩ thuật có giá trị gia tăng cao hơn vào cuối những năm 2000, thay đổi nhằm tăng số lượng công ty và lao động năm 2010. Xuất khẩu bắt đầu tăng do nâng cao khả năng cạnh tranh và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu vào cuối những năm 2000.

Thành lập khu liên hợp sản xuất chuyên ngành trong khu vực

Hình 2.1: Bản đồ phân bố khu liên hợp sản xuất trong lĩnh vực dệt may của Hàn Quốc

http://hict.edu.vn/pic/News/images/2020/THM/04.jpg

cấu công nghiệp cân bằng: Tích hợp theo chiều dọc từ các sản phẩm thượng nguồn, trung nguồn cho tới hạ nguồn để trở thành ngành dịch vụ khép kín. Trong đó, sợi nhân tạo ở dòng thượng nguồn – vải (dệt/đan) và nhuộm và hoàn thiện ở dòng trung nguồn – sản phẩm dệt may ở dòng hạ nguồn.

Hình 2.2: Cơ cấu sản xuất dệt may

http://hict.edu.vn/pic/News/images/2020/THM/06.jpg

Đặc biệt, mặt hàng vải và ngành nhuộm và hoàn thiện cho thấy khả năng cạnh tranh cao do tiếp tục nghiên cứu và phát triển trên cơ sở của viện nghiên cứu chuyên ngành trong khu vực. Do đó, thặng dư thương mại của mặt hàng vải đạt 5.3 tỷ đô la Mỹ và chiếm 53.6% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành trong năm 2018.

Bảng: Chỉ tiêu sản xuất, xuất nhập khẩu ngành dệt may Hàn Quốc

từ năm 2019 đến Quý I/2022

Chỉ tiêu

Năm 2019

Năm 2020

Năm 2021

Năm 2022

Tháng 1

Tháng 2

Tháng 3

Quý I

Sản xuất Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

85,8

-6,5

73,3

-14,5

77,7

6

80,4

10,3

68,2

4

83,6

1

74,3

7,3

Xuất khẩu

Tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

12,959

-8

11,238

-13,3

12,807

14

1,112

22

971

15.1

1,164

8,2

1,623

14,7

Nguồn: Hiệp hội Công nghiệp dệt may Hàn Quốc

Nhìn chung, tình hình sản xuất và xuất khẩu dệt may của Hàn Quốc đều có chiều hướng giảm vào tháng 2 và có sự phục hồi trong tháng 3. So với cùng kỳ những năm trước, tình hình sản xuất và xuất khẩu dệt may của Hàn Quốc đều có kết quả tích cực hơn, đặc biệt là xuất khẩu với mức tăng trưởng tốt.

3. Tình hình xuất khẩu Quý I năm 2022 và thông tin cảnh báo mặt hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc

a. Tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Hàn Quốc Quý I/2022

Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Hàn Quốc trong Quý I/2022

Trong Quý I/2022, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hàn Quốc đạt 754.167 nghìn USD. Từ biểu đồ, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong tháng 1 đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu của toàn quý, ở mức 41.65%. Trong tháng 1, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hàn Quốc đạt 314.078 nghìn USD, sang tháng 2, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hàn Quốc giảm 45,54% so với tháng 1, đạt 171.062 nghìn USD. Sang tháng 3, kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt 269.026 nghìn USD, mức tăng 57,27% so với tháng 2. Tuy nhiên, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hàn Quốc trong Quý I/2022 giảm 11,49% so với Quý IV/2021 (852.023 nghìn USD).

Biểu đồ: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam 

sang Hàn Quốc trong Quý I năm 2020 - 2022

 

Tháng 1

Tháng 2

Tháng 3

Quý I

2020

225.857

238.345

244.035

708.238

2021

235.835

192.268

277.743

705.846

2022

314.078

171.062

269.026

754.167

Tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong năm 2021 và năm 2022 đều có xu hướng giảm vào tháng 2 và phục hồi vào tháng 3. Tính trong Quý I/2022, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hàn Quốc tăng 6,85% so với Quý I/2021 và tăng 6,48% so với Quý I/2020.

b. Một số thông tin cảnh báo

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự đoán nền kinh tế Hàn Quốc sẽ tăng trưởng 4,3% trong năm 2021 và 3,3% năm 2022. Cụ thể, GDP danh nghĩa của Hàn Quốc ước tính đạt 1.820 tỷ USD trong năm 2021 và 1.910 tỷ USD trong năm 2022.

Việt Nam và Hàn Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 12/1992. Trải qua gần 30 năm, quan hệ giữa hai nước đã có những bước phát triển vượt bậc, đặc biệt kể từ khi hai nước thiết lập mối quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược Việt Nam - Hàn Quốc vào năm 2009. Trên cơ sở hai nước đã ký kết Hiệp định thương mại tự do trong khuôn khổ ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA) vào năm 2006, nhằm củng cố mối quan hệ sâu sắc trên cùng kỳ vọng khai thác hơn nữa tiềm năng thương mại của hai quốc gia, sau nhiều năm đàm phán, hai nước đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) ngày 05/05/2015 và có hiệu lực từ 20/12/2015. Sau khi Hiệp định VKFTA chính thức có hiệu lực, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hàn Quốc chứng kiến nhiều thay đổi tích cực, từ 36,5 tỷ USD năm 2015 tăng 2,138 lần lên mức 78,06 tỷ USD năm 2021. Một trong những mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hàn Quốc những năm qua là sản phẩm dệt may. Nhờ việc ký kết hiệp định VKFTA, nhiều mặt hàng dệt may của Việt Nam được hưởng thuế suất ưu đãi là 0%, từ đó tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc tăng từ 900 triệu USD (2011) lên 2,855 tỷ USD (2020). Việt Nam luôn nằm trong top đầu những nước xuất khẩu mặt hàng dệt may sang thị trường Hàn Quốc. Việc ký kết hiệp định VKFTA đã làm củng cố thêm vị thế của Việt Nam tại thị trường này cũng như rút ngắn khoảng cách thị phần với những ông lớn khác, đặc biệt là Trung Quốc - quốc gia luôn dẫn đầu trong việc xuất khẩu mặt hàng dệt may sang Hàn Quốc

Xuất khẩu tăng trưởng nhanh cho thấy năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam trong nhiều ngành đã cao hơn, hàng hoá của Việt Nam đã thâm nhập được và có chỗ đứng tại nhiều thị trường. Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra áp lực cạnh tranh đối với các ngành sản xuất tại nước nhập khẩu, khiến các ngành sản xuất này có thể phải yêu cầu chính phủ sử dụng các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ để bảo vệ mình. Do đó, cùng với việc kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng cao, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có khả năng trở thành đối tượng bị điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Trên thực tế, số lượng vụ việc phòng vệ thương mại với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam đã tăng nhanh trong những năm gần đây. Tính đến nay, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã là đối tượng của 212 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của nước ngoài. Đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, đã có 22 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại với hàng dệt may và các vụ việc này có chiều hướng gia tăng trong vòng 3 năm trở lại đây. Trong số các vụ việc trên có 12 vụ việc điều tra chống bán phá giá, 3 vụ việc điều tra chống trợ cấp, 1 vụ việc điều tra chống lẩn tranh, 6 vụ việc tự vệ. Hiện Hàn Quốc chưa áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên, trong tương lai, với mức tăng trưởng xuất khẩu tích cực, các doanh nghiệp cần trang bị những kiến thức cơ bản về phòng vệ thương mại, thường xuyên trao đổi thông tin với hiệp hội và cơ quan quản lý nhà nước, chủ động và tích cực phối hợp giữa các doanh nghiệp vì lợi ích chung của ngành sản xuất trong nước.



 


Bài viết liên quan