Tin tức

Phân tích, đánh giá mặt hàng thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh xuất khẩu sang thị trường Malaysia



Ngành công nghiệp thủy tinh và sản phẩm thủy tinh của Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển. Việt Nam có vùng nguyên liệu cát trắng với trữ lượng lớn trải dài từ Bắc tới Nam tạo ra thế mạnh trong sản xuất. Bên cạnh đó, đây cũng là điều kiện thuận lợi để các nhà máy sản xuất thủy tinh và sản phẩm thủy tinh lựa chọn vùng nguyên liệu. Việt Nam là đối tác quan trọng của nhiều nước trong các loại mặt hàng từ thủy tinh có thể kể đến như kính ép, đúc, kính cường lực…

Theo nguồn từ Tổng cục Hải quan, trong giai đoạn 2016-2020, mặt hàng thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh xuất khẩu chủ yếu tới khu vực Đông Nam Á với mức tăng trưởng bình quân là 7%, kim ngạch xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Singapore và Malaysia. Sau tác động từ dịch Covid-19, hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu không còn bị gián đoạn, nhu cầu tiêu thụ đối với các mặt hàng trong đó có thủy tinh và sản phẩm từ thủy tinh tăng trưởng trở lại. Cụ thể là kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong năm 2021 đạt 741,8 triệu USD, tăng 16,2% so với năm 2020.

Đến nay, thủy tinh và sản phẩm thủy tinh của Việt Nam có chỗ đứng đáng kể tại thị trường Malaysia. Theo số liệu của Cục Thống kê Quốc gia Malaysia, năm 2021, Malaysia nhập khẩu 801,8 triệu USD mặt hàng thủy tinh và sản phẩm thủy tinh. 03 nước đứng đầu gồm Trung Quốc (36,9% thị phần tương ứng kim ngạch là 296,4 triệu USD), Việt Nam (21,7% thị phần tương ứng kim ngạch là 174,3 triệu USD) và Nhật Bản (10,7% thị phần tương ứng kim ngạch là 85,5 triệu USD).

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 11 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủy tinh và sản phẩm thủy tinh của Việt Nam sang Malaysia đạt 102 triệu USD, giảm 46,5% so với cùng kỳ năm 2021.

Trong thời gian qua, một số dự án công nghệ cao tại Việt Nam đã thành công, giúp doanh nghiệp nhanh chóng làm chủ các công nghệ cao tiên tiến trên thế giới như công nghệ sản xuất sợi thuỷ tinh thông tin quang, ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ hội chẩn y tế từ xa và kết nối liên thông dữ liệu các bệnh viện, ứng dụng công nghệ cao trong y sinh hỗ trợ chẩn đoán một số bệnh ở người…Tuy nhiên, thực trạng phát triển của ngành công nghiệp thủy tinh và sản phẩm thuỷ tinh của Việt Nam đang tập trung ở các lĩnh vực sản phẩm chiếu sáng, thuỷ tinh dân dụng, thủy tinh bao bì và một tỷ lệ rất nhỏ là thuỷ tinh dùng cách điện, điện tử và quang học. Nhiều lĩnh vực thủy tinh khác như: cách nhiệt, chịu nhiệt, chịu hóa chất, chịu mài mòn, điện tử hiện chưa phát triển.

Do đó, ngành công nghiệp thủy tinh và sản phẩm thuỷ tinh Việt Nam cần phải được tái cơ cấu theo hướng phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp trong bối cảnh Cách mạng công nghệ 4.0 và chuyển đổi số.


Bài viết liên quan